Việc chia tài sản thừa kế có người không đồng ý là một vấn đề thường gặp. Theo quy định pháp luật, nếu người chết không để lại di chúc, tài sản sẽ được chia cho các đồng thừa kế. Tuy nhiên, quá trình phân chia di sản thường xảy ra tranh chấp giữa các bên liên quan. Những tranh chấp này thường xuất phát từ việc không thống nhất trong quan điểm của các đồng thừa kế. Luật Sư AZ luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn trong các tình huống pháp lý liên quan đến thừa kế và tranh chấp di sản.
Di sản thừa kế của một người được xác định như thế nào?
Di sản thừa kế của một người được xác định theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Tài sản được quy định tại Chương VII Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quyền tài sản là quyền có giá trị bằng tiền, bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Bất động sản bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, và các tài sản khác theo quy định của pháp luật. Động sản là những tài sản không thuộc loại bất động sản.
Tài sản riêng là tài sản được tạo lập và sở hữu bởi một mình người để lại di sản. Tài sản chung là tài sản có quyền sở hữu chung theo thỏa thuận, pháp luật hoặc tập quán. Theo Điều 209, Điều 210, Điều 212, Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu chung gồm sở hữu chung hợp nhất, sở hữu chung theo phần, sở hữu chung của vợ chồng, và sở hữu chung với gia đình.
Khi một người qua đời, phần tài sản chung giữa vợ chồng thường gây tranh chấp trong việc xác định đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung. Việc xác định tài sản chung và riêng của vợ chồng dựa trên Điều 33 và Điều 43 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Ai là người có quyền hưởng di sản thừa kế?
Người có quyền hưởng di sản thừa kế được xác định theo hai hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra sau thời điểm đó nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời. Nếu người thừa kế không phải là cá nhân, họ phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Thừa kế theo di chúc
Di chúc là văn bản thể hiện ý chí của cá nhân về việc chuyển tài sản cho người khác sau khi chết. Di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện như người lập di chúc phải minh mẫn, không bị ép buộc, nội dung di chúc không vi phạm pháp luật và hình thức di chúc không trái quy định pháp luật.
Người lập di chúc có thể chỉ định ai sẽ được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, và con thành niên không có khả năng lao động vẫn có quyền nhận ít nhất hai phần ba suất thừa kế nếu di sản được chia theo pháp luật. Ngay cả khi họ không được ghi nhận trong di chúc hoặc được cho hưởng ít hơn mức này.
Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là việc phân chia di sản theo các hàng thừa kế được quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Các hàng thừa kế bao gồm:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai: Ông bà nội ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết.
- Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì ruột của người chết, cháu chắt ruột của người chết.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Ngoài ra, theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, những người bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi, lừa dối, cưỡng ép, sửa chữa, giả mạo, hủy di chúc sẽ không có quyền hưởng di sản thừa kế.
Cách giải quyết chia tài sản thừa kế có người không đồng ý
Khi có người không đồng ý trong việc phân chia di sản, các bên liên quan nên ưu tiên tự thỏa thuận để đạt được kết quả mong muốn và duy trì hòa khí, đặc biệt vì các chủ thể trong quan hệ thừa kế thường là người trong cùng gia đình.
Nếu không thỏa thuận được, có thể nhờ người thứ ba hòa giải hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp tranh chấp liên quan đến đất đai, các bên có thể hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Tuy nhiên, thủ tục hòa giải này không phải là điều kiện bắt buộc để khởi kiện.
Nếu các bên chọn khởi kiện, thẩm quyền giải quyết được xác định như sau:
- Nếu không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức). Nếu di sản tranh chấp là bất động sản, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản.
- Nếu có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điểm c Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng có thể lấy vụ việc từ cấp huyện lên để giải quyết nếu thấy cần thiết.
Trên đây là nội dung tư vấn chia tài sản thừa kế có người không đồng ý từ công ty Luật Sư AZ. Nếu cần thêm thông tin hoặc muốn được tư vấn trực tiếp, hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline để được hỗ trợ chi tiết về luật sư tư vấn thừa kế và tham gia tố tụng tại Tòa án.
